Diễn đàn Luật Sư Riêng: Những điểm mới trong Luật phá sản 2014 - Diễn đàn Luật Sư Riêng

Jump to content

Trang 1 của 1
  • Bạn không thể mở chủ đề mới
  • Bạn không thể trả lời chủ đề này

Những điểm mới trong Luật phá sản 2014 Trên cơ sở kế thừa nền tảng của Luật cũ, Luật phá sản 2014 có nhiều nộ

#1 User is offline   admin 

  • Administrator
  • Nhóm: Administrators
  • Bài viết: 13
  • Gia nhập: 27-February 11

Gửi lên vào 29 January 2018 - 03:33 AM

Tập tin đính kèm  11.jpg (230.19K)
Số lần tải về: 0


Trên cơ sở kế thừa nền tảng của Luật cũ, Luật phá sản 2014 có nhiều nội dung mới so với Luật phá sản 2004, cụ thể là:

1) Thu hẹp phạm vi áp dụng

Nếu như Luật phá sản 2004 quy định hiệu lực của Luật phá sản áp dụng “đối với doanh nghiệp, hợp tác xã hoạt động trên lãnh thổ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam” thì Luật phá sản năm 2014 chỉ áp dụng đối với “doanh nghiệp, hợp tác xã được thành lập trên lãnh thổ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Quy định này mang tính thực tế và khả năng áp dụng cao hơn so với quy định cũ.

2) Thay đổi tiêu chí xác định doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán

Tiêu chí xác định doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán là “không thực hiện nghĩa vụ thanh toán” chứ không phải “không có khả năng thanh toán”. Thời điểm được xác định trong thời hạn 3 tháng kể từ ngày đến hạn thanh toán mà không phải là “khi chủ nợ có yêu cầu” như quy định tại Luật phá sản 2004. Luật mới không yêu cầu việc xác định hay phải có căn cứ chứng minh doanh nghiệp, hợp tác xã không có khả năng thanh toán bằng bản cân đối tài chính. Căn cứ để Tòa án ra quyết định mở thủ tục phá sản là có khoản nợ và đến thời điểm ra quyết định doanh nghiệp, hợp tác xã vẫn không thanh toán. Tiêu chí mất khả năng thanh toán không phụ thuộc vào số lượng khoản nợ nhiều hay ít mà chỉ cần một khoản nợ. Có nghĩa là bất kỳ khoản nợ nào, dù nợ lương, nợ thuế, nợ bảo hiểm xã hội, khoản nợ phát sinh từ hợp đồng..., chủ nợ là cá nhân, cơ quan, tổ chức đều có quyền yêu cầu mở thủ tục phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã.

3) Có sự thay đổi về thẩm quyền của Toà án:

Khác với luật 2004, Luật phá sản năm 2014 quy định thẩm quyền của Tòa án theo cấp, theo lãnh thổ, theo hướng doanh nghiệp, hợp tác xã do cơ quan cấp nào cấp đăng ký kinh doanh thì do Tòa án cấp ấy có thẩm quyền giải quyết, trừ những vụ việc phá sản có tình tiết đặc biệt (có yếu tố nước ngoài, có địa điểm ở nhiều quận huyện khác nhau, hoặc tòa cấp tỉnh lấy lên giải quyết). Để bảo đảm tính khách quan, Luật phá sản năm 2014 cũng bổ sung quy định về trường hợp phải từ chối hoặc thay đổi thẩm phán trong quá trình giải quyết phá sản. Luật cũng bỏ quy định “Tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi đặt trụ sở chính của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam có thẩm quyền tiến hành thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đó”. Vì theo quy định hiện hành, tất cả các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế đều bình đẳng và hoạt động trong khuôn khổ Luật doanh nghiệp. Tòa án cấp huyện đương nhiên có thẩm quyền giải quyết vụ việc phá sản của doanh nghiệp này, trừ khi nó có tài sản ở nước ngoài hoặc người tham gia thủ tục phá sản ở nước ngoài.

4) Quản tài viên và doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản

Luật phá sản năm 2014 quy định cá nhân, doanh nghiệp được hành nghề quản lý, thanh lý tài sản trong quá trình giải quyết phá sản gồm: Quản tài viên và doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản. Việc xây dựng chế định chủ thể quản lý, thanh lý tài sản là cá nhân, pháp nhân là một bước thay đổi cơ bản trong Luật phá sản năm 2014.

5) Tuyên bố phá sản theo thủ tục rút gọn

Theo quy định tại khoản 3, khoản 4 Điều 5 Luật phá sản năm 2014, khi doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán, không còn tiền, tài sản khác để nộp lệ phí phá sản, tạm ứng chi phí phá sản thì người nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản phải ghi rõ yêu cầu Tòa án giải quyết phá sản theo thủ tục rút gọn. Đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản và các tài liệu kèm theo phải đúng quy định tại Điều 28 và có đầy đủ căn cứ chứng minh. Đối với trường hợp này, thủ tục phá sản được giải quyết nhanh chóng. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày Tòa án thông báo cho người tham gia thủ tục phá sản về việc Tòa án giải quyết phá sản theo thủ tục rút gọn, Tòa án xem xét, tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản hoặc tiếp tục giải quyết theo thủ tục thông thường và thông báo cho người tham gia thủ tục phá sản biết. Bên cạnh đó, Luật cũng bổ sung quy định mới về việc xem xét đơn đề nghị, kiến nghị theo thủ tục đặc biệt.

6) Quy định về tiền lãi đối với các khoản nợ

Luật phá sản năm 2014 đã bổ sung quy định về xác định tiền lãi đối với khoản nợ. Theo đó, kể từ ngày ra quyết định mở thủ tục phá sản, các khoản nợ vẫn được tiếp tục tính lãi theo thỏa thuận nhưng được tạm dừng việc trả lãi. Trong trường hợp Thẩm phán ra quyết định đình chỉ tiến hành thủ tục phá sản theo quy định của Điều 86, đình chỉ thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 95 thì việc tạm dừng trả lãi chấm dứt, các bên tiếp tục thực hiện trả lãi theo thỏa thuận; đối với các khoản nợ mới phát sinh sau khi mở thủ tục phá sản đến thời điểm tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản thì tiền lãi của các khoản nợ đó được xác định theo thỏa thuận nhưng không trái với quy định của pháp luật; kể từ ngày ra quyết định tuyên bố phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã thì các khoản nợ không được tiếp tục tính lãi.

Có thể nói, Luật phá sản 2014 đã có bước phát triển và đạt được những kết quả quan trọng, góp phần khắc phục những bất cập, hạn chế về thủ tục giải quyết các vụ việc phá sản theo quy định của Luật phá sản 2004, tạo hành lang pháp lý để Tòa án giải quyết nhanh việc phá sản của các doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán.


1

Chia sẽ chủ đề này:


Trang 1 của 1
  • Bạn không thể mở chủ đề mới
  • Bạn không thể trả lời chủ đề này

1 người đang xem chủ đề này
0 thành viên, 1 khách, 0 ẩn danh